B. Nội dung
I. Hoàn cảnh ra đời của đảng cộng sản Việt Nam.

Hoàn cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: Chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc); Sự ra đời của chủ nghĩa Mac-Lenin và được truyền bá rộng rãi; Điển hình trong giai đoạn này là cuộc cách mạng tháng 10 Nga, rồi sự ra đời của Quốc tế cộng sản III.
Hoàn cảnh trong nước,Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam; Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ nhưng cuối cùng cũng bị dập tắt, những phong trào tiêu biểu: Phong trào Cần Vương (1885-1896), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913).
Trên đây là toàn bộ nhân tố khách quan dẫn đến sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Vậy đâu là nhân tố chủ quan,đó chính là vai trò của chủ tịch Hồ Chí Minh.
II. Vai trò của Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
1.Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước (1911-1920)

Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 15-09-1890 quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào. Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.
Ngày 5-6-1911, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Về mục đích ra đi của mình, năm 1923 Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng:“Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”(1). Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(2).
Trên lộ trình cứu nước người đã trải qua những bước ngoặt lớn.
Thứ nhất: Người đã nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám và Người đã vượt qua được sự hạn chế tầm nhìn của họ và đi tìm con đường cứu nước khác.
Thứ hai: Người đã nhận ra hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là cuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.
Ngày 6-7-1911, Người đến cảng MácXây, thấy nhiều người phụ nữ nghèo khổ Người nói với người bạn “ Tại sao người Pháp không khai hóa đồng bào của họ trước khi khai hóa chúng ta?”. Làm thuê trên chiếc tàu vòng quanh Châu Phi, chứng kiến tận mắt những cảnh chết chóc khổ cực của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân người đã nghĩ: Đối với bọn thực dân tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu.
Giữa tháng 12-1912, Người tới Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, phần lớn thời gian để học tập và nghiên cứu về cách mạng tư sản Mỹ 1776.
Cuối 1913, Người từ Mỹ sang Anh, cuối 1917 Người trở lại Pháp.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) giết hại bao nhiêu sinh mạng, phá hủy vô vàn của cải, làm cho Người hiểu thêm bản chất của chủ nghĩa tư bản.
Nghiên cứu cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776), cách mạng tư sản Pháp (1789) Người đã đánh giá: con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung, Việt Nam nói riêng.
Năm 1917,giữa lúc chiến tranh thế giới sắp kết thúc Người trở lại Pháp.Tai đây Người lao vào cuộc đấu tranh của công nhân Pháp, tham gia Đảng xã hội Pháp, lập ra hội những người Việt Nam yêu nước với tờ báo Việt Nam hồn để tuyên truyền giáo dục Việt kiều ở Pháp.Trong những ngày hoạt động cách mạng sôi nổi đó cuộc cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ làm chấn động toàn cầu. Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt, Người hướng đến ánh sáng của cách mạng tháng 10 và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của cuộc cách mạng đó. Người đã đánh giá : “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”
Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Vécxây Hội nghị này còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari, nhưng thực chất đó là nơi chia phần giữa các nước đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và các dân tộc bị áp bức. Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Người cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây. Những yêu sách dù khiêm tốn của người không được hội nghị đáp ứng, tuy nhiên bản yêu sách này được báo chí Pháp công bố rộng rãi và ảnh hưởng chính trị vang dội.Đó là đòn tấn công đầu tiên của Người vào bọn đế quốc.
Thứ ba: Đi theo con đường cách mạng tháng 10 Nga, đi theo quốc tế cộng sản
Tháng 7-1920, Người đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của LêNin. Luận cương đã giải đáp trũng những vấn đề mà Người trăn trở tìm hiểu, giúp người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc nhận thức rõ lập trường của LêNin và quốc tế thứ ba khác hẵn với sự tuyên bố của quốc tế II.Luận cương của LêNin có ảnh hưởng quyết định đến lâp trường cứu nước của Người: Người đến với chủ nghĩa Mac-LêNin, tán thành quốc tế thứ ba (12-1920), đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong nhưng nhà sáng lập Đảng cộng sản Pháp và là người Đảng cộng sản đầu tiên của nước Việt Nam.
Qua mười năm sinh sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển. Người đã tìm ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc đó là cách mạng vô sản lấy chủ nghĩa Mac- LêNin làm nền tảng.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh Chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập ĐCS Việt Nam (1921-1929).
Thời kì ở Pháp (1921-1923)

Năm 1919 Người cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa của Pháp lập ra hội liên hiệp thuộc địa nhằm tập hợp tất cả những người ở thuộc địa sống trên đất Pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Ra tờ báo “Người cùng khổ” , là cơ quan ngôn luận của tổ chức này và Người làm chủ bút tờ báo. Ngoài ra Người còn viết những báo cáo cho các tờ báo khác của Pháp như Nhân đạo,Đời sống công nhân, viết vở kịch “Con rồng tre”. Đặc biệt viết tác phẩm bản án chế độ thực dân Pháp (1925). Tất cả các bài viết của người đều có nội dung tố cáo tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược, truyền bá chủ nghĩa mác-Lênin. Tất cả các bài báo trên dều được bí mật gởi về nước thông qua 1 đường dây liên lạc bí mật là các thuỷ thủ người Việt Nam yêu nước trên những chuyến hàng hải Pháp-Việt. Nhờ hoạt động của Người mà chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam, giúp cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam bước đầu tiếp nhận chủ nghĩa Mác- Lênin.