| | I. VÀI NÉT VỀ DỦKHEIM
1. Tiểu sử
Emile Durkheim là nhà khoa học chuyên nghành đầu tiên trong lịch sử xã hội học, ông là nhà xã hội học cả ở cơ sở khoa học lẫn chính trị.
Ông là người đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng và chủ nghiã cấu trúc trong xã hội học hiện đại. Durkheim sinh ngày 15-4-1858 trong một gia đình người Do Thái ở Epinal Pháp mất ngày 15-11-1917 tại Pari
Nhờ học giỏi nên Durkheim đã được nhận vào trường Econal Normale ở Pari 1879 và tại đó ông đã hoàn thành luận án tiến sĩ “ nghiên cứu về tổ chức các xã hội tiên tiến” năm 29 tuổi ông giảng dạy tại trường ĐHTH Bordeaux , trong thời gian làm việc tại đây ông đã hoàn thành công trình xã hội học đồ sộ “ phân công lao động trong xã hội “ (1893) “ các quy tắc của phương pháp XHH” (1895) , tự tử (1897), năm 1912 ông còn cho xuất bản tác phẩm độc đáo và quan trọng nhất đời mình “ những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo “ , cùng nhiềi tác phẩm khác
Việc Durkhiem đưa vào giảng dạy môn XHH trong trường ĐH đã mở đầu bước tiến quan trọng của xã hội học với tư cách là một khoa học
2. Một số quan niện của Durkheim về xã hội học
Thế kỉ 19 XH Pháp có nhiều biến đổi sâu sắc về mặt kinh tế chính trị , văn hóa, khoa học, kĩ thuật: cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới công xã Pari nổ ra và thắng lợi trong vòng 72 ngày rồi bị đàn áp đẫm máu 1871; công cuộc công nghiệp hóa nước pháp diễn ra mạnh mẽ kéo theo sự tích tụ dân cư vào các thành phố lớn , đồng thời gây sáo trộn đổ vỡ các quan hệ xã hội cộng đồng tạo ra tình trạng hỗn đoạn mà Durkhiem gọi là “ vô tổ chức “ ,” vô đạo đức” , lối sống cạnh tranh về lợi làm căng thẳng các mối quan hệ xã hội , các tầng lớp dân cư.
XHH Durkheim ra đời trong bối cảnh XH có nhiều biến đổi sáo trộn to lớn như vậy điều đó giải thích cho quan niệm của Durkheim : XHH là khoa học nghiên cứu về các sự kiện xã hội , tìm ra quy luật để từ đó tạo ra các trật tự xã hội trong xã hội hiện đại
Về mặt lí luận Durkheim chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng châu Âu Saint Simon, August Comte, Spencer… đăjc biệt là kế thừa và phát triển mô hình lí luận và phương pháp luận XHH của Comte chủ trương XHH phải trở thành khoa học về các quy luật tổ chức xã hội
Durkheim cho rằng cần xác định đối tượng nghiên cứu của XHH như là sự kiện xã hội , sự vật xã hội , bằng chứng xã hội thì XHH mới thực sự thoát ra khỏi các khao học khác và vận dụng các phương pháp nghiên cứu riêng
Theo Durkheim xã hội tồn tại bên ngoài cá nhân và có trước cá nhân với nghĩa là cá nhân được sinh ra trong XH và phải tuân thủ các chuẩn mực các phép tắc XH đã có trước khi cá nhân đó sinh ra . Vì vậy XH cần phải xem xét hệ thống xã hội, cấu trúc xã hội và các ,hiện tượng xã hội với tư cách là các sự kiện xã hội, các bằng chứng , sự vật xã hội đang tác động lên cá nhân
Thực chất XHH Durkheim xoay quanh mối quan hệ con người _ xã hội Durkhiem đã tìm cách trả lời câu hỏi làm thế nào để bảo đảm tự do cá nhân mà không làm tăng tính vị kỉ của con người trong khi vẫn tạo ra được trật tự xã hội thông qua việc nghiên cứu các sự kiện xã hội bằng cách tiếp cận vi mô
Từ quan niệm của Durkheim có thể khái quát XHH là khoa học về các sự kiện xã hội
II. PHÂN TÍCH QUY TẮC GIẢI THÍCH SỰ KIỆN XÃ HỘI CỦA DURKHEIM VÀ RÚT RA CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC
Durkhiem đã phát triển các ý tưởng quan trọng phương pháp luận của mình trong cuốn” phân công lao động xã hội”, sau đó ông trình bày một cách một cách hệ thống quan điểm của mình trong công trình nổi tiếng “ các quy tác của phương pháp XHH”
Như chúng ta đã biết theo Durkheim đối tượng nghiên cứu của XHH là các sự kiện XH với hai nghĩa: sự kiện xã hội vật chất (dân cư, tổ chức xã hội); sự kiện xã hội phi vật chất (phong tục, hệ thống các chuẩn mực ..). Tuy nhiên sự kiện xã hội ở đây là mọi cách làm cố định hay không cố định có khả năng tác động lên cá nhân một cách cưỡng bức bên ngoài hay mọi cách làm có tính chất chung trong phạm vi rộng lớn của một xã hội nhất định trong khi vẫn có một sự tồn tại riêng độc lập với các biểu hiện cá biệt của nó . Khác với tâm lí học chủ yếu quan tâm tới sự kiện xảy ra bên trong cá nhân , còn xã hội học tập trung vào nghiên cứu các sự kiện trong hiện thực khách quan , trong thế giới bên ngoài cá nhân “ sự kiện xã hội “ , hay như sự kiện lịch sử là những sự kiện chết . Sự kiện xã hội có các đặc trưng cơ bản ; nó là những gì xảy ra bên ngoài cá nhân và có sự cưỡng bức ( kiểm soát , cưỡng chế ) sự kiện xã hội có tính phổ biến khách quan và có thể xã định đươc bằng kinh nghiệm
Từ sự khác nhau đó Durkheim đã chỉ ra một số loại quy qắc trong nghiên cứu xã hội học trong tác phẩm viết năm 1895 khi ông đang giảng dạy tại trường ĐH Bordeaux
Tác phẩm đã phân tích một số quy tắc trong nghiên cứu XHH như :
Nhóm quy tắc quan sát các sự kiện xã hội : đòi hỏi coi sự kiện xã hội như sự vật …
Nhóm quy tắc phân biệt cáu bình thường với cái sai lệch: cách tốt nhất để xác định cái chuẩn mực với cái bình thường là phát hiện ra cái thường gặp, cái chung cái của số đông, điển hình của xã hội cụ thể trong giai đoạn lịch sử nhất định
Nhóm quy tắc chứng minh xã hội
Nhóm quy tắc phân loai xã hội
Nhóm quy tắc giải thích sự kiện xã hội
Quy tăc giải thích sự kiện xã hội là một trong những quy tắc quan trọng được Durkheim vận dụng trong rất nhiều nghiên cứu của ông. Và cũng được nhiều thế hệ nhà xã hội học sau này ứng dụng.
Quy tắc giải thích sự kiện xã hội đòi hỏi khi giải thích các hiện tượng xã hội cần phân biệt nguyên nhân “hiệu quả”,tức là nguyên nhân gây ra hiện tương với chức năng và hiên tượng đó thực hiện. Durkheim chỉ rõ hai nguyên tắc cụ thể là 1) phải tìm nguyên nhân quyết định một sự kiện xã hội trong các sự kiện xã hội trước chứ không phải trong trạng thái ý thức cá nhân;và (2) đồng thời phải tìm chức năng của một sự kiện xã hội trong mối quan hệ mà nó duy trì với một mục đích xã hội nào đó Như vậy theo Durkheim nghiên cứu xã hội có hai nhiệm vụ chính:
1: Chỉ ra diều kiện yếu tố và nguyên nhân gây ra hiện tượng xã hội
2: Phân tích chức năng, hệ quả của hiện tượng xã hội đối với cả hệ thống xã hội, bối cảnh xã hội mà hiện tượng đó diễn ra
Phần lớn các nhà XHH tưởng rằng họ đã nhận thức được cá hiện tượng, một khi họ đã làm cho nhìn thấy các hiện tượng đó phục vụ cái gì, nó giữ vai trò gì.Người ta lập luận dường như là các hiện tượng chỉ tồn tại do vai trò đó mà thôi không có nguyên nhân quyết định khác ngoài các ý thức rõ rang hay không rõ ràng về các dịch vụ mà các hiên tượng đó phải đem lại. Nhu cầu của chúng ta về sự vật không thể làm cho chúng như thế này, thế kia, và do đó, không phải nhu cầu đó , có thể lấy ra từ hư vô và đem lại tồn tại cho nó . C ác sự vật đó có sự tồn tại là do nó có những nguyên nhân khác Ý thức chúng ta về tính co ích của chúng có thể kích thích chúng ta làm cho các nguyên nhân phát huy tác dụng và rút ra cac kết quả mà chúng bao hàm , chứ không phải là gợi ra các kết quả đó từ cái không có gì hết . Song vì mỗi hiện tượng là một sức mạnh và nó thống trị sức mạnh của chúng ta , vì nó có một bản chất riêng nó, nên vấn đề đem lại cho nó sự tồn tại , mà chỉ có mong muốn và ý chí thôi là không đủ. Ấy là còn phải có các sức mạnh có khả năng sản sinh ra sức mạnh được xác định ấy , những bản tính có khả năng sản sinh ra bản tính đặc biệt ấy . Chỉ với điều kiện đó thôi , hiện tượng mới có khả năng xuất hiện . Để làm sống lại tinh thần ở nơi nào tinh thần bị suy yếu , mà moi người chỉ hiểu lợi thế của tinh thần đó thôi , thì vẫn không đủ phải có tác động thẳng vào các nguyên nhân và chỉ ra các nguyên nhân đó thôi mới có khả năng sinh ra được nó .
Một sự kiện có thể tồn tại mà không phục vụ mục đích gì hoặc là nó không phục vụ mục đích sống còn nào hoặc là sau khi đã có ích , nó mất đi tính có ích , nó tiếp tục tồn tại chỉ là do sức mạnh duy nhất của thói quen .Thậm trí có những trường hợp mà ở đó hoặc là một thực tiễn , hoặc là một thể chế xã hội thay đổi các chức năng mà không vì thế thay bản chất. Do đó các nguyên nhân làm cho nó trở thành tồn tại độc lập với các mục đích mà nó phục vụ
Ví dụ : ta có thể giải thích về sự phân công lao đông trong xã hội như sau ; xã hội ngày càng phát triển , dân số tăng , khoa học kĩ thuật phát triển , công nghiêp phát triển dẫn tới dân cư từ các vùng nông thôn chuyển sang thành thị nhiều đem lai bao nhu cầu và dịch vụ khác cũng như nhiều mối qaun hệ khác trong cuộc sống của con người.Sự phân công lao động mà Durkheim phân tích ở đây không chỉ có ý nghĩa thuần túy như kinh tế học mà chỉ ra nguyên nhân xã hội chức năng của sự kiện phân công lao động . Đó là tạo ra sự đoàn kết và hội nhập xã hội .Cùng với việc biến đổi hình thức phân công lao động là sự xuất hiện của kiểu xã hội mới . Với trình độ phân công lao động ngày càng cao thì vai trò và nhiệm vụ của phân công lao đông ngày càng phân hóa và chuyên môn hóa sâu sắc. kết quả là các cá nhân ngày càng phải tương tác với nhau phụ thược lẫn nhau . Họ không còn đoàn kết với nhau một cách máy móc vì sự dập khuôn , vì sự hao hao trong lao động sản xuất và sinh hoạt. Mà các cá nhân trở nên phụ thuộc chưc năng lẫn nhau , tương tác với nhau , quan hệ với nhau một cách chặt chẽ. Từ đố tạo ra đoàn kết xã hội . Sự biến đổi của đoàn kết xã hội phụ vào biến đổi kiểu đoàn kết xã hội . Đến lượt mình đoàn kết xã hội phụ thuộc vào sự phân công lao động . Trong tác phẩm phân công lao động xã hội Durkheim đã chỉ ra các yếu tố xã hội của sự phân công lao động xã hội . Ông cho rằng sự tích tụ dân cư và sự di cư đô thị hóa và công nghiệp hóa làm tăng mật độ tiếp xúc , quan hệ tương tác giữa các cá nhân nhóm cá tổ chức xã hội . Mật độ đạo đức , mật độ năng động tăng lên làm cho mức độ cạnh tranh cũng tăng lên trong xã hội buộc các cá nhân muốn tồn tại thì phải “ đấu tranh” cạnh tranh với nhau thong qua sự phân công lao động tức là chuyên môn hóa chức năng nhiệm vụ
Durkheim cũng chỉ ra rằng sự phân công lao đông tỉ lệ thuận với mô hình và quy mô mật độ xã hội . Sự phân công lao động càng tinh vi chuyên môn hóa chức năng xã hội cao thì các cá nhân nhóm xã hội càng tương. tác chặt chẽ với nhau càng phụ thuộc lẫn nhau . Kết quả là sự phân công lao động xã hội thực hiện chức năng tạo ra sự đoàn kết xã hội và củng cố tinh thần đoàn kết xã hội tạo ra sự hội nhạp xã hội .Khi nào sự phân công lao động không làm tròn chức năng đoàn kết xã hội thì có nghĩa là xã hội rơi vào tình trạng bầt bình thường , khủng hoảng . Do đó nhà xã hội học cũng giống như thầy thuốc có nhiệm vụ nghiên cứu tình trạng khủng hoảng’ bệnh tật ”của xã hội góp phần đưua ra cách cứu chữa nhằm giúp cơ thể xã hội trở về trạng thái bình thường “ lành mạnh”
Từ phân tích trên ta thấy rõ một quy tắc giải thích sự kiện xã hội mà Durkheim
| |
Đánh dấu