Vấn đề công tác xã hội với người khuyết tật
1. Khái niệm về người khuyết tật
Khái niệm chung
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về người khuyết tật được đưa ra nhưng chung nhất là “người khuyết tật là những người do bị khiếm khuyết nào đó của cơ thể dẫn tới sự giảm sút đáng kể trong việc thực hiện chức năng so với những cá nhân bình thường khác”.
Việc sử dụng khái niệm “khuyết tật, tàn tật hay tật nguyền” ở Việt Nam vẫn chưa được thống nhất giữa các nhà chuyên môn. Ở đây chúng ta tạm thời dùng từ “khuyết tật” có nên chăng ta thay đổi cách gọi để mọi người nhìn nhận theo khía cạnh tích cực của nhóm đối tượng này.
Ví dụ: Ở một số nơi lại sử dụng nhóm từ “những người có nhu cầu đặc biệt”.
Khái niệm người khuyết tật trong Công tác xã hội
Người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các di chứng hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu quả của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống cần được xã hội quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ.
2. Phân loại người khuyết tật
Dựa vào các căn cứ khác nhau, người khuyết tật được chia làm một số nhóm:
1. Về độ tuổi.
Có trẻ em khuyết tật (1 tháng tuổi - 18 tuổi)
Người lớn khuyết tật (18 tuổi trở lên).
2. Về nguồn gốc khuyết tật.
- Khuyết tật từ nhỏ, ngay từ khi sinh ra đã bị khuyết tật về một phần, chức năng nào đó của cơ thể.
- Khuyết tật do chiến tranh (thương binh): là người bình thường khi tham gia chiến đấu do hậu quả của bom đạn, kẻ thù… làm ảnh hưởng đến cơ thể.
- Khuyết tật do tai nạn lao động: trong quá trình sinh hoạt, làm việc do không cẩn thận đã dẫn đến chấn thương lớn làm ảnh hưởng lâu dài tới cơ thể dẫn đến hậu quả không đáng có. Vì vậy, việc đề cao vấn đề an toàn lao động là hết sức cần thiết.
- Khuyết tật do bệnh nói chung: là nhóm người khuyết tật do di chứng của những căn bệnh cũ để lại.
Ví dụ: Một số người do tai biến mạch máu não đã bị liệt nửa người hoặc toàn thân…
3. Về mức độ khả nang lao động.
- Những người khuyết tật nhóm 1: mất kahr năng lao động.
- Những người khuyết tật nhóm 2: tạm thời mất khả năng lao động hoặc còn khả năng lao động trong những lĩnh vực hạn chế.
Ví dụ: Người tàn tật do bị mất một chân họ vẫn có thể tham gia hoạt động và làm việc ở lĩnh vực khác như bán hàng, học tập…
- Những người khuyết tật nhóm 3: còn khả năng lao động trong những điều kiện được ưu ái.
Ví dụ: Người mù tại nhiều nơi được tạo điều kiện làm việc và học tập (chữ nổi), làm tăm…
4. Về tính chất bệnh tật.
Những người khuyết tật có thể được liệt vào các nhóm:
- Cơ động được: vẫn có thể có hoạt động, tham gia làm việc ở lĩnh vực có thể.
- Ít cơ động: hạn chế mức độ hoạt động.
- Bất động: không thể hoạt động cơ thể được (liệt).
Tùy theo sự quy thuộc nhóm này hay nhóm khác mà giải quyết các vấn đề về bố trí công ăn việc làm và tổ chức sinh hoạt đời sống cho người khuyết tật.
Đối với những người khuyết tật ít cơ động (có khả năng di chuyển chỉ khi nhờ có xe lăn hay nạng chống) có thể làm việc ở nhà hoặc chuyên chở giúp họ đến nơi làm việc.
Đối với những người khuyết tật bất động không di chuyển được nếu không có người khác giúp đỡ họ có thể làm những công việc về trí óc như: nghiên cứu khoa học, viết sách báo, sáng tác văn học nghệ thuật…
Đối với những người bị mù nhưng vẫn đi lại được thì những người làm Công tác xã hội hay các tổ chức xã hội cần trực tiếp giúp đỡ họ…
3. Một số đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu của người khuyết tật
Là một nhà Công tác xã hội, muốn giúp đỡ và giải quyết những khó khăn của người khuyết tật thì trước hết phải hiểu về tâm lý, nhu cầu của các nhóm người khuyết tật - nhóm yếu thế. Ngoài những nhu cầu chung nhất họ còn có những đòi hỏi riêng mà nhà Công tác xã hội cần chú ý:
- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của người khuyết tật có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập… Do đó gia đình vfa xã hội cần có hỗ trợ, ưu tiên đặc biệt cho nhóm đối tượng này như: chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, làm tay chân giả, cung cấp xe lăn, máy trợ thính, thiết bị tiện nghi, nhà ở … cần có được các dịch vụ giáo dục đặc biệt dành cho người khuyết tật.
Ví dụ: Dạy chữ nổi Braile cho người mù, chương trình giáo dục đặc biệt cho trẻ câm điếc,…
- Cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác ở người khuyết tật được thể hiện rõ nét: khi họ mất đi khả năng hoạt động của cơ quan cảm giác nào đó thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất phát triển và sự nhận biết thế giới xung quanh thực hiện chủ yếu thông qua giác quan còn lại này.
Ví dụ: Người mù do mất đi khả năng thị giác nên độ nhạy cảm của cơ quan thính giác, xúc giác phát triển. Với đặc điểm trên, khi thực hiện các hoạt động dạy học, dạy nghề… ta cần vận dụng tối đa sự tham gia của các cơ quan cảm giác còn lại (cần nghiên cứu, thiết kế nhiều đồ dùng học tập để khi giảng dạy người câm điếc ta tăng cường sử dụng hình ảnh trực quan, các động tác tay chân để mô phỏng, ngược lại với người mù phải tích cực hỗ trợ bằng các phương tiện nghe, sờ…
- Do mất hoặc giảm khả năng hoạt động một trong các cơ quan tiếp nhận thông tin cần thiết cho hoạt động nhận thức nên phần lớn một số người khuyết tật giác quan, tật thần kinh… hoạt động tư duy có phần bị giảm sút về tốc độ do khối lượng thông tin cần tiếp thu bị hạn chế (những người tật vận động thì vẫn bình thường). Chính vì vậy trong hoạt động giáo dục, dạy nghề ta cần cung cấp thông tin qua nhiều kênh, nhiều nguồn bằng nhiều biện pháp để tăng cường lượng thông tin cho hoạt động nhận thức của đối tượng.
Ví dụ: Dạy trẻ câm điếc ta dùng hình ảnh để trẻ nhìn, dùng vật mà trực tiếp tiếp xúc được, thậm chí dùng độ rung của âm thanh để trẻ được cảm nhận.
- Do bị bệnh tật, khó khăn đi lại hoặc giao tiếp nên hoạt động lao động, giao lưu hạn chế hơn so với người bình thường nếu không có hỗ trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở người khuyết tật sẽ bị thu hẹp. Do đó, gia đình và xã hội cần tạo điều kiện cho đối tượng hòa nhập vào cuộc sống xã hội của những người bình thường.
Ví dụ: Tổ chức các câu lạc bộ, các sinh hoạt giải trí, thể thao… để họ có dịp được gặp, tạo cơ hội để trẻ khuyết tật học chung lớp với trẻ em bình thường để xóa bỏ mặc cảm.
- Họ cần được học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật: các công việc thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn có thể phù hợp với họ. Việc làm vừa đem lại cho họ niềm vui trong lao động, vừa giúp họ có thu nhập… điều này giúp họ giảm bớt tâm lý bị phụ thuộc vào kinh tế, tâm lí bị bỏ đi…
- Môi trường cộng đồng và gia đình cũng cần được thích ứng với hoàn cảnh của người khuyết tật.
Ví dụ: Trong gia đình, tại trường học, các khu công cộng cần được thiết kế các phương tiện sinh hoạt phù hợp với nhu cầu người khuyết tật.
- Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động trên nên người khuyết tật thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy… Ngay cả khi này, họ cũng cần được chấp nhận, tôn trọng. Cộng đồng và xã hội cần giáo dục mọi người tránh cử chỉ, hành vi miệt thị xa lánh, cần loại bỏ những tên gọi theo dị tật như “thằng què, con cụt”… xúc phạm đến họ.
- Cần động viên khuyến khích, phát huy những mặt tích cực của than chủ. Bên cạnh những khó khăn trên mà người khuyết tật phải trỉa qua, nhưng họ lại là người rất giàu về nghị lực để vượt qua khó khăn của tật nguyên. Với sự hỗ trợ thích hợp của gia đình và xã hội một số người khuyết tật đã đạt được nhiều thành tích cao trong lao động và học tập.
- Mặt khác họ là người có đời sống nội tâm rất nhạy ảm và tế nhị, họ rất thông cảm với những khó khăn của người khác hơn cả so với người bình thường. Chính vì vậy, họ là những người hoạt động rất có hiệu quả trong các nhóm tự giúp. Tại đây họ giúp nhau vượt qua khó khăn của bệnh tật, chia sẻ kinh nghiệm với nhau để thích nghi tốt hơn.
5. Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ người khuyết tật về mặt xã hội
- Những nhân vien Công tác xã hội phải nắm bắt được cac văn bản liên ngành về pháp lý xác định quy chế người khuyết tật.
Quyền lợi chung thuộc người khuyết tật được nêu trong Tuyên ngôn Liên Hợp Quốc “Về quyền lợi của người khuyết tật”.
- Một số điều trong văn kiện pháp lý quốc tế đã nêu rõ: “Người khuyết tật có quyền được tôn trọng nhân phẩm, có quyển công dân, quyền lợi chính trị, có quyền được hưởng các biện pháp nhằm có được sự độc lập tự chủ càng nhiều càng tốt, có quyền được hưởng sự điều trị về y tế, về kỹ thuật nhằm phục hồi sức khỏe và vị thế trong xã hội, có quyền được đi học, đào tạo nghề nghiệp, tư vấn, bố trí công ăn việc làm và phải được bảo vệ trước bất cứ hình thức bóc lột nào”
- Các văn bản nền tảng mang tính pháp lý cũng đã được áp dụng nhiều ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Với ý nghĩa để xác định quyền hạn của người khuyết tật trách nhiệm của nhà nước, của các tổ chức từ thiện của các cá nhân với việc phục vụ xã hội đối với những người khuyết tật.



LinkBack URL
About LinkBacks
TK : 5,250 Gold



Trả lời kèm Trích dẫn
Đánh dấu